Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia

     Tỷ lệ giữa tổng nợ nước ngoài so với nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (%):Chí tiêu này biểu diễn tỉ lệ nợ nước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ. Thu nhập từ xuất khấu hàng hóa và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thế sử dụng đế trả nợ nước ngoài.

     Những vấn đề khi sử dụng chí tiêu này là nguồn thu xuất khẩu dễ biến động từ năm này qua năm khác, ngoài ra cũng có những phương án khác đế nước con nợ có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu, như cắt giảm nhu cầu nhập khẩu, hay giảm nguồn dự trữ ngoại hối.

     Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia (%). Đãy là chỉtiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua tổng thu nhập quốc dân được tạo ra. Nó phản ánh khá năng hấp thụ vốn vay nước ngoài. Thông thường các nước đang phát triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ ti giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ. Điều này có thể dẫn đến tình trạng nợ có thê được đánh giá không đúng mức.

Tỷ lệ nợ nước ngoài

     Tỷ lệ tổng lãi phải trả hàng năm so với kim ngạch xuất khẩu (%). Một quốc gia phải thanh toán lài với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thường lãi này được trích từ thu nhập xuất khẩu. Quốc gia mắc nợ trong quá khứ thì hiện tại và tương lai họ sẽ phái trích thu nhập từ xuất khẩu càng nhiều cho trá nợ và như vậy sẽ hạn chế khối lượng ngoại tệ dành cho nhập khẩu.

     Tỷ lệ dự trữ ngoại hối so với tổng nợ nước ngoài (%): Chỉ tiêu này biểu diễn khá năng của Ngân hàng Trung ương (hoặc Ngân hàng nhà nước) của nước con nợ có thế dùng dự trữ ngoại hối đế trả nợ nước ngoài là như thế nào.

      Tỷ lệ % tổng nợ nước ngoài so với GDP: Đãy là chỉ tiêu biểu diễn quan hệ tống nợ nước ngoài với GDP của nước con nợ. Nó phản ánh tiêm năng trả nợ của một quốc gia.

     Ngoài ra, các chỉ tiêu thông kê khác thượng được sử dụng bô sung đê đánh giá nợ nước ngoài là diễn biến cán cân vãng lai, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tăng trưởng GDP, hệ số 1COR hoặc CPI. Những biến số phi kinh tế cũng được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng, bao gồm: khả năng xảy ra nội chiến, mức độ xung đột tôn giáo, phân biệt chủng tộc, phân biệt giàu nghèo… Như vậy, có thể nói rằng rằng không một chỉtiêu cá biệt nào có thể đo được một cách chính xác và đầy đủ toàn bộ sự phức tạp về vấn đề nợ của một nước.


Đọc thêm tại:

0 nhận xét:

Đăng nhận xét