This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước thường sử dụng hàng loạt công cụ. Trước hết, với công cụ thuế, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách mà còn kiểm soát và hướng dẫn hoạt động kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành và theo vùng lãnh thổ.

Thông qua việc xác định đối tượng chịu thuế, cơ cấu các loại thuế, biểu suất thuế, chính sách miễn giảm thuế để Nhà nước khuyến khích những ngành hàng, sản phẩm cần khuyến  khích và hạn chế những ngành hàng, sản phẩm không khuyến khích. Để thực hiện định hướng xuất – nhập khấu, Nhà nước xây dựng hàng rào thuế bảo hộ đối với những sản phẩmkhuyến khích sản xuất trong nước và ngược lại, thực thi chính sách miễn giảm thuế đối với những sản phẩm khuyến khích xuất khấu. Đối với các nước đang phát triển, khi sứ dụng công cụ thuế cần lưu ý đến mặt hạn chế của nó.

Đó là mâu thuẫn nảy sinh trong việc quy định mức thuế thấp, Chính phú thường bị hạn chế trong việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bán như chăm sóc sức khóe cho nhân dân, thực hiện phô cập giáo dục cũng như đầu tư của Nhà nước. Nhưng mức thuế cao cũng sẽ hạn chế chi tiêu của hộ gia đình và đầu tư của tư nhân, do đó lại hạn chế tăng trướng.

Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

Vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế của ngân sách nhà nước không chì được thực hiện qua công cụ thuế mà còn được thực hiện qua chi tiêu của ngân sách. Chi của ngân sách cho đầu tư phát triển nhằm xây dựng và mớ rộng các cơ sở hạ tầng,, hệ thống điện nước, thủy lợi, năng lượng, giao thông vận tải, bưu điện… và một số công trình kinh tế mũi nhọn sẽ trở thành động lực thúc đẩy sự ra đời của các cơ sở kinh tế khác của tư nhân hoặc đầu tư nước ngoài.

Công cụ lãi suất và tỷ giá cũng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Lãi suất tiền gửi của các tố chức tín dụng có tác động đến việc thu hút các khoản tiền tiết kiệm còn tạm thời nhàn rỗi, tạo nguồn vốn cho đầu tư. Do đó, đế tăng vốn đầu tư phát triển sản xuất cần xác định lãi suất thích hợp, đảm bảo lãi suất thực tế dương cho người gửi và đảm bảo lợi nhuận so với chi phí cơ hội cho các nhà đầu tư.

Việc xác định tỷ giá lại có tác động đến hoạt động xuất- nhập khấu. Khi giám giá đồng tiền trong nước sẽ làm cho hàng hóa xuất khẩu sang nước khác rẻ hơn và hàng hóa nhập khẩu vào sẽ đắt hơn, do đó tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa. Ngược lại, khi tăng giá đồng tiền trong nước thì hàng hóa xuất khẩu sang nước khác đắt hơn, hàng hóa nhập khẩu vào trong nước rẻ hơn sẽ tạo thuận lợi cho nhập khẩu và kích thích tiêu dùng trong nước.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: no cong viet nam, ngân sách nhà nước

Nội dung chính sách tài chính quốc gia

Chính sách tài chính quốc gia là bộ phận của chính sách kinh tế, nó sử dụng tổng thể các công cụ của hệ thống tài chính nhằm khai thác, động viên và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của đất nước phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội. Để đạt được hiệu quả cao trong định hướng hoạt động tài chính, chính sách tài chính quốc gia lại bao gồm các chính sách tài chính bộ phận. Do đó, nội dung chính sách tài chính quốc gia bao gồm các chính sách cơ bản sau:

Chính sách huy động và sử dụng vốn: Để đảm bảo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, Chính phủ cần đưa ra các định hướng huy động vốn đầu tư trong nước, nước ngoài và định hướng sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả.

Chính sách tài chính doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp, chính sách tài chính của Nhà nước cần tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp tích tụ, tăng quy mô vốn đầu tư, nhanh chóng đổi mới công nghệ, nhằm từng bước nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tá. Đồng thời tạo sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh.

chính sách tài chính quốc gia

Chính sách tài khóa: Trong hệ thống tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước có vị trí quan trọng đặc biệt. Hoạt động quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước phụ thuộc vào khá năng và hiệu quả hoạt động của ngân sách Do đó, chính sách tài khóanhằm hướng vào việc huy động vốn cho ngàn sách nhà nước một cách vừng chẳc, ổn định nhàm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.

Chính sách tiền tệ: là bộ phận rất quan trọng của chính sách tài chính quốc gia. Trong chính sách này, Nhà nước cần hướng vào sử dụng các công cụ trực tiếp và gián tiếp tác động vào thị trường tiền tệ, qua đó tác động vào hoạt động kinh tế.

Chính sách tài chính đối ngoại: thông qua chính sách này, Nhà nước định hướng việc mở rộng các quan hệ tài chính với nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn này để phát triển kinh tế và cải thiện các điêu kiện xã hội.

Trong những chính sách trên đãy, chính sách tài khóavà chính sách tiền tệlà những chính sách bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống chính sách tài chính quốc gia. Những chính sách này được coi là chính sách điêu tiết vĩ mô của Chính phủ. Thông qua các chính sách này, Chính phủ tác động đến thị trường tiền tệ và qua đó tác động đến hoạt động kinh tế của đất nước.





Lợi ích của chính sách tài chính

Ổn định kinh tế vĩ mô

Chính phủ các nước thực hiện ổn định kinh tế bằng cách sử dụng đồng bộ các công cụ tài chính, tiền tệ và giá cả để chống lạm phát, thất nghiệp và ổn định giá cả. Các nhà kinh tế đã nêu ra hai yếu tố chủ yếu được coi là nguyên nhân của lạm phát: đó là cầu tăng do chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng làm cho giá hàng hóa tăng và thứ hai là chi phí tăng đẩy giá nguyên vật liệu và hàng hóa tăng.

Ngoài những nhân tố truyền thống của lạm phát do cầu kéo và chi phí đẩy, nhũng nhân tố tâm lý cũng tham gia tác động. Ví như công nhân dự định giá cả sẽ tiếp tục tăng và thu nhập thực tế của họ còn bị giảm hơn nữa khiến họ đấu tranh đòi tăng lương. Mức lương ngày càng tăng đã gây áp lực đổi với chi phí sán xuất, dẫn đến giá tiêu dùng cao hơn và đẩy lạm phát tiếp tục tăng.

Đứng trước tình trạng giá cả ngày càng tăng và mức thất nghiệp cao hơn, phần lớn các nước thực thi một kết hợp các chính sách kinh tế, những chính sách này bao gồm:
Lợi ích của chính sách tài chính

  •  Giảm bớt lượng cung tiền và tăng lãi suất.

  •  Giảm chi tiêu của Chính phủ.

  •  Tăng thuế, đặc biệt là thuế thu nhập đối với những nhóm có mức thu nhập trung bình và cao.

  •  Đưa ra các chính sách chi đạo về lương và giá nhằm cố gắng giảm bớt mức tăng của chi phí và giá cả.

  •  Điều chinh tỷ giá hối đoái theo hướng cố gắng giảm bớt chi phí nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và giảm giá hàng tiêu dùng trong nước.

Trong trường hợp ngược lại, khi nền kinh tế trong tình trạng giảm phát, chính sách tài chính được sử dụng theo hướng kích cầu.

Thực hiện công bằng xã hội

Nhà nước góp phần thực hiện công bằng xã hội bằng các biện pháp giảm bớt sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng kinh tế. Thông qua trợ cấp và chi tiêu của ngân sách cho những người nghèo, trẻ mồ coi, người già không nơi nương tựa, ngoài ra còn chi ngân sách cho các nhu cầu về nâng cao đời sống văn hóa, giáo dục phố cập, kể hoạch hóa dân số và gia đinh… Những chi tiêu này mọi người đều được hưởng, đặc biệt là những người có thu nhập thấp và các vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh giải pháp chi ngân sách, chính sách thuế với mức động viên hợp lý giữa các ngành nghề, giữa các thành phần kinh tế, giữa các tổ chức, đồng thời thông qua thuế suất, biểu thuế, chính sách miễn giảm thuế làm cho chính sách thuế trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước để điều tiết và phân phối lại một cách thỏa đáng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Việc thực hiện chính sách lãi suất cho vay ưu đãi đối với các hộ nghèo, khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đã tạo cơ hội cho người dân ở các vùng này phát triển kinh tế, giảm bớt sự chênh lệch về mức sống dân cư giữa các vùng.


Đọc thêm tại:

Chính sách thuế của nhà nước

    Nguồn thu của ngân sách nhà nước bao gồm các khoản: thuế, phí – lệ phí, thu từ dầu thô, thu từ bán – cho thuê đất đai, tài sản và các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, thu từ tiền lãi của. các tài sán có sinh lời của Nhà nước mang lại, các khoản vay, viện trợ của nước ngoài (mang tính chất không hoàn lại), các khoản đóng góp của các tố chức và cá nhân.

     Trong các nguồn thu trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách. Hệ thống thuế thường được chia làm hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu.

     Thuế trực thu là loại thuế mà người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế. Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào ngân sách từ thu nhập của các tô chức và cá nhân cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều, người vó thu nhập thấp thìnộp ít hơn, người không có thu nhập thì không phải nộp thuế.

    Thuế trực thu còn cho phép tính đến những yếu tố có tính chất độc lập với thu nhập của người nộp thuế như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình. Tuy vậy, sử dụng thuế trực thu cùng có những mặt hạn chế, đó là: việc tính toán phức tạp, phải xác định rõ được thu nhập mới tính được thuế, có khi phái chờ đến quyết toán. Một trở ngại khác là việc đánh thuế trực diện vào thu nhập về mặt tâm lý dề bị phán ứng. Mặt khác, diện quản lý thuế trực thu là rất rộng (tất cả các tổ chức và cá nhân có thu nhập).

Chính sách thuế của nhà nước

     Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế (tức là người bán hàng hóa, dịch vụ) có thể chuyển một phần số thuế phải nộp sang cho người mua hàng hóa, dịch vụ, bằng cách cộng một phần thuế đó vào giá bán hàng. Ưu điểm của thuế gián thu là nghiệp vụ tính thuế và thu thuế đơn giản, thu kịp thời hơn thuế trực thu, do đó nó mang lại nguồn thu tương đôi ổn định cho ngân sách.

    Đối tượng quản lý thuế gián thu cũng hẹp hơn so với thuế trực thu, chỉ cần quản lý các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Mặt hạn chế của thuế gián thu là khi mua cùng một loại hàng hóa thì người giàu và người nghèo đều phải chịu thuế như nhau, điều đó cũng có nghĩa là xét về tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn so với người nghèo. Ở các nước đang phát triển, khi thu nhập của người dân còn thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chính sách tiền tệ, ngân sách nhà nước

Thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt

     (1) Thuế giá trị gia tăng (VAT): Đây là hình thức thuế được bắt đầu áp dụng ở trên 40 nước đang phát triển từ năm 1994, Braxin đã áp dụng loại thuế này từ năm 1967 thay cho thuế doanh thu áp dụng trước đây. Đối tượng nộp thuế là mọi cơ sở kinh doanh có thu phát sinh ở Việt Nam. Thuế thu trên phần doanh số tăng thêm và không áp dụng với các đối tượng thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất – nhập khẩu. Thuế giá trị gia tăng thường được coi là phương pháp đánh thuế tiêu dùng hiệu quả nhất từ trước đến giờ. Hầu hết các nước đang phát triển và các nước công nghiệp áp dụng VAT đều đã lựa chọn mở rộng loại thuế này đến giai đoạn bán lẻ.

    Vai trò của thuế VAT trong việc tạo ra những khoản thu nhập thuế lớn một cách nhanh chóng và tương đổi nhẹ nhàng khiến cho nó được coi làm một cỗ máy kiếm tiền. Mặc dù danh tiếng này chủ yếu có được từ kinh nghiệm của các nước châu Âu song ghi chép ở các nước đang phát triển thực sự cho thấy những lợi thế về thu nhập thuế được công nhận của thuế VAT. Ở Inđônêsia, thuế giá trị gia tăng đóng góp 4% vào GDP năm 1987 gần gấp 3 lần khoán đóng góp của các loại thuế mà nó thay thế năm 1983. Và đối với 14 trong 27 nước thu nhập thấp và thu nhập trung bỉnh, phần đóng góp của thuế VAT trong GDP cao hơn 3% trong gần một nửa số nước này và thuế VAT thường chiếm ít nhất 20% trong tổng thu nhập thuế.

Thuế giá trị gia tăng

     (2)Thuế tiêu thụ đặc biệt: Đối tượng chịu thuế là các cơ sở sản xuất, nhập khẩu các loại sàn phẩm: rượu, bia, thuốc lá, ô tô nhập khẩu các loại, bài lá, hàng mã, kinh doanh vũ trường, mát xa. Thuế tiêu thụ đặc biệt là một nguồn để tăng thu nhập lý tưởng. Các loại thuế này thường được đánh vào những mặt hàng xa xỉ, nên có nhu cầu tương đối ổn định. Khi sự co giãn của cầu theo giá đối với nhũng sản phẩm như vậy quá thấp (như là sản phẩm thuốc lá) hoặc tương đối thấp (đồ uống có cồn) thì tăng tỉ suất thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ ít làm giảm tiêu thụ hàng được đóng thuế. Nếu độ co giãn theo giá là -0.2, thường không phải là hiếm thấy đối với thuốc lá, thì thuế tiêu thụ 10% thêm đánh vào mặt hàng này sẽ làm tăng 8% trong thu nhập thuế.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chinh sach tien te, ngan sach nha nuoc

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Thực trạng nợ nước ngoài ở Việt Nam

Thực trạng nợ nước ngoài ở Việt Nam

  1. Thiếu vốn luôn là vấn đề nan giải đối với các nước đang phát triển, nhưng các nước này lại có tiềm năng để thu được tỷ suất lợi tức đầu tư cao hơn và tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước phát triển, đãy chính là cơ sở để có thế vay vốn từ các nước giàu. Trong bối cảnh đó, vay nợ nước ngoài góp phần bố sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần chuyến giao công nghệ và năng lực quản lý, ổn định thu nhập trong nước và bù đắp cán cân thanh toán, từ đó góp phần làm tăng trưởng và phát triển kinh tế

  2. Nợ quốc gia là toàn bộ các khoản vay nợ nước ngoài cho các hoạt động kinh tê xã hội của chính phủ, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệptư nhân. Nợ quốc gia có xuất xứ từ các nguồn vay như ODA, vay thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay thương mại, vay của các doanh nghiệp được nhà nước bảo trợ và vay thông qua trái phiếu.


  3. Nợ nước ngoài được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo thời hạn vay, nợ nước ngoài được phân thành nợ nước ngoài ngắn hạn và nợ nước ngoài dài hạn, theo chú thế đi vay thì nợ nước ngoài được phân thành nợ công, nợ tư nhân được Chính Phù bảo lãnh và nợ tư nhân, theo loại hình vay, nợ nước ngoài được phân loại thành vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thương mại, theo chú thể cho vay nợ nước ngoài được phân loại thành nợ đa phương và nợ song phương.

  4. Lý thuyết chu kỳ nợ cho ràng các nước đang phát triển từ khi bước vào vay nợ cho đến khi bước vào giai đoạn cho vay sẽ trải qua 5 giai đoạn từ con nợ trẻ, con nợ chín muồi, con nợ giảm dần, nhà cho vay trẻ và cuối cùng là nhà cho vay chín muồi nhỏ, sau đó tăng dần và đến giai đoạn đỉnh cao sẽ trờ thành con nợ chín muồi. Tuy vậy, không phải tất cả các quốc gia đều có thể thực hiện đúng quỹ đạo của lý thuyết chu kỳ nợ nói trên mà lại rơi vào tình trạng vỡ nợ. Vay nợ một cách không khôn ngoan và sử dụng đồng vốn kém hiệu quả sẽ làm mất khả năng thanh toán quốc tế và dự trữ quốc gia làm sụp đổ nền kinh tế.

  5. Tính đến cuối năm 2010 nợ nước ngoài của Việt Nam là 32,5 tỷ USD, chiếm 42,2% GDP, trong đó khoản nợ của Chính phủ là 27,86 tỷ USD chiếm 85,7% tổng dư nợ. về cơ cấu nợ, 46,66% trong số 32,5 tỷ USD này là nợ song phương, 44,59% là nợ đa phương, còn lại là nợ do phát hành trái phiếu, nợ các ngân hàng thương mại và các chủ nợ tư nhân khác. Mức dư nợ này được dự kiến trả từ năm nay đến hết năm 2026, với mức trả hàng năm cao nhất lên tới gần 2,4 tỷ USD (cả gốc lẫn lãi, phí) và năm thấp nhất gần 1 tỷ USD. Nhìn chung, xem xét chỉ tiêu nợ nước ngoài của Việt Nam cho thấy các chỉ tiêu này vẫn đang nam trong giới hạn an toàn và ngân sách nhà nước vẫn được duy trì bền vững.

Các công cụ quản lý nợ ở Việt Nam hiện nay

Để quản lý nợ công có hiệu quá, tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ như một số nước khác trên thế giới, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 30/8/2010, việc quản lý toàn diện nợ công sẽ thông qua 4 công cụ, đặc biệt tình hình nợ công sẽ được công khai 6 tháng một lần.

Bốn công cụ được dùng để quản lý nợ công gồm: Chiến lược dài hạn về nợ công; Chương trinh quản lý nợ trung hạn; Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ; Các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công.

Thứ nhất, chiến lược dài hạn về nợ công gồm các nội dung như đánh giá thực trạng nợ công và công tác quản lý nợ công trong giai đoạn thực hiện Chiến lược trước đó; mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công,…

Căn cứ để xây dựng chiến lược dài hạn về nợ công là kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và 10 năm, các kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực vùng lãnh thổ cũng như các nghị quyết, quyết định về chủ trương huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ của Đảng, Nhà nước và Chính phủ,…

quản lý nợ ở Việt Nam

Thứ hai, chương trình quản lý nợ trung hạn gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định hướng huy đông, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công.

Thứ ba, kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ có nội

dung gồm: Ke hoạch vay trong nước (gồm kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà nước và kế hoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển)- Kế hoạch vay nước ngoài, được thực hiện thông qua các hình thức huy động, gồm vay ODA, vay ưu đãi, vay thương mại và được chi tiết theo chủ nợ nước ngoài- Ke hoạch trả nợ, được chi tiết theo chú nợ, có phân định trả nợ gốc và trả nợ lãi, trả nợ trong nước và trá nợ nước ngoài.

Thứ tư là các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công. Các chí tiêu giám sát nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm: nợ công so với tống sản phẩm quốc dân (GDP), nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, nghĩa vụ trá nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuât nhập khâu, nợ chính phủ so với GDP…

Ngoài ra, Nghị định cũng cho phép thành lập Quỹ tích lũy trả nợ.Quỹ này được hình thành nhằm đảm báo khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ các khoản vay nước ngoài cứa Chính phú về cho vay lại hoặc nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà nước phát sinh từ các khoản bảo lãnh của Chính phủ. Quỹ này sẽ được giao cho Bộ Tài chính quán lý với nguyên tắc bảo toàn và phát triển nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của Quỹ. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính phải công khai các khoán nợ, cung cấp thông tin về tình hình vay, trả nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh; vay, trả nợ nước ngoài của quốc gia, nợ của chính quyền địa phương theo quy định thông qua hình thức phát hành Bán tin về nợ công với tần suất 6 tháng một lần dưới dạng ấn phẩm và dữ liệu trên Trang điện tử của Bộ Tài chính.

Đọc thêm tại: http://quyluatphattrienkinhte.blogspot.com/2015/07/chinh-sach-quan-ly-su-dung-von-vay-nuoc.html